Luông Pra
Băng hay Luông Pha Băng, Luông Phá Băng (nghĩa là Phật Vàng Lớn) (phiên âm
latinh kiểu phương Tây: Luang Prabang, hay Louangphrabang), là một thị xã của
Lào. Theo các thư tịch cổ Việt, địa điểm này còn có tên gọi là Nam Chưởng, và
theo Đại
Luông Pra Băng nằm ở phía bắc miền
trung Lào, bên sông Cửu Long cách Viêng Chăn 425 km về phía Bắc. Dân số của
thành phố này khoảng 22.000 người.
Vị trí thành phố
Mường Xoa là tên cũ của Luông Pra
Băng sau khi nó bị một thủ lĩnh người Thái là Khun Lo chinh phục năm 698, lợi
dụng cơ hội khi Nam Chiếu đang dẫn quân đi chiến đấu ở nơi khác. Khun Lo được
cha mình là Khun Borom ban tặng thành phố đó. Khùn Borom gắn liền với truyền
thuyết Lào về việc thành lập thế giới, truyền thuyết chung của dân tộc Lào cùng
với người Shan và các dân tộc khác trong vùng. Khun Lo đã lập ra một triều đại
với mười lăm đời vua nối tiếp nhau cai trị vùng Mường Xoa độc lập và là một
giai đoạn yên ổn kéo dài một thế kỷ.
Nửa cuối
thế kỷ 8, Nam Chiếu thường can thiệp vào công việc của các công quốc vùng trung
châu thổ sông Cửu Long, dẫn tới việc chiếm Mường Xoa năm 709. Các hoàng tử ở
Nam Chiếu hay những vị quan cai trị đã thay thế các lãnh chúa quý tộc người
Thái. Thời gian của cuộc chiếm đóng này hiện chưa được biết, nhưng có lẽ nó đã
kết thúc trước khi diễn ra cuộc Bắc tiến của Đế quốc Khmer dưới thời vua
Indravarman I (khoảng 877-89) và kéo dài tới tận các vùng lãnh thổ của Sipsong
Panna ở thượng lưu sông Cửu Long.
Cùng lúc ấy, người Khmer thành lập
một tiền đồn ở Xay Fong gần Viêng Chăn, và Chămpa kéo dài tới tận miền Nam nước
Lào, tiếp tục hiễn diện trên hai bờ sông Cửu Long đến tận năm 1070.
Chanthaphanit, vị quan địa phương cai trị Xay Fong, di chuyển về phía Bắc đến
Mường Xoa và được chấp nhận một cách hòa bình làm người cai trị ở đó sau khi
các vị quan của Nam Chiếu rút đi. Chanthaphanit và con trai có thời gian cầm
quyền rất lâu, trong giai đoạn đó vùng này bắt đầu được gọi theo cái tên bằng
tiếng Thái là Xiêng Đông-Xiêng Thoong. Cuối cùng triều đình này tham dự vào
cuộc xung đột giữa một số công quốc. Khun Chuang, một vị cai trị hiếu chiến có
thể từng là một người Kammu (những cách đánh vần khác gồm Khamu và Khmu), đã mở
rộng lãnh thổ của mình sau khi chiến đấu với các công quốc khác và có thể đã
cai trị trong khoảng từ 1128 đến 1169. Dưới thời Khun Chuang, một dòng họ duy
nhất đã cai trị một vùng lãnh thổ rộng lớn và tái lập hệ thống hành chính kiểu
Xiêm từ thế kỷ thứ 7. Ở một số khía cạnh, Phật giáo tiểu thừa đã bị gộp vào
Phật giáo đại thừa.
Xieng Dong
Xieng Thong đã trải qua một giai đoạn ngắn dưới quyền bá chủ của người Khmer
thời Jayavarman VII từ 1185 đến 1191. Tới năm 1180 Sipsong Panna đã giành lại
được độc lập từ Khmer, tuy nhiên năm 1238 một cuộc nổi dậy từ bên trong tiền
đồn của Khmer tại Sukhodaya đã dẫn tới việc trục xuất các lãnh chúa Khmer.
Năm 1353
Xiêng Đông-Xiêng Thoong trở thành thủ đô của Lan Xang. Năm 1560 Vua
Setthathirath I di chuyển thủ đô tới Viêng Chăn, hiện nay vẫn là thủ đô của
Lào.
Năm 1707, Lan Xang tan rã và Luông
Pra Băng trở thành thủ đô của Vương quốc Luông Pra Băng độc lập. Khi Pháp sáp
nhập Lào, Pháp công nhận Luông Pra Băng là nơi cư ngụ hoàng gia của Lào. Cuối
cùng, vị vua cai trị Luông Pra Băng trở thành đồng nghĩa với nguyên thủ quốc
gia của Nhà nước bảo hộ Lào thuộc Pháp. Khi Lào giành lại độc lập, vua Luông
Pra Băng, Sisavang Vong, trở thành lãnh đạo quốc gia của Vương quốc Lào.
Các triều đại tại Luông Pra Băng
• Khun Lo, vị lãnh chúa đã lập ra
thành phố
• Phà Ngùm, hoàng tử Luang Prabang
người lập ra Lan Xang
• Oun Kham, nhà vua cai trị dưới
thời Pháp
• Kham Souk (Zakarine), nhà vua cai
trị thời Pháp và có tư tưởng độc lập
• Sisavang Vong, nhà vua thời Pháp,
và khi Pháp trao lại độc lập cho Lào, đã trở thành vua của toàn bộ vương quốc




Nhận xét (0)
In trang này
Gửi bạn bè
Đầu trang