| Huunghi Tours Website | ||||
|
Lịch sử nước Lào Ngày cập nhật Thứ năm, 01.08.2009, 11:46am (GMT) Thời kỳ đầu Lịch sử Lào thông thường có thể truy nguyên nguồn gốc từ khi
Fa Ngum thành lập vương quốc Lan Xang năm 1353, trải qua các thời kỳ phong
kiến, chư hầu và thuộc địa của Xiêm, Pháp, Nhật, và độc lập ngày nay. Người Lào, nhóm dân tộc chính sống tại nước Lào hiện nay, là
một nhánh của các dân tộc sử dụng hệ ngôn ngữ Thái, những người mà cho tới thế
kỉ 8 đã thiết lập vương quốc Nam Chiếu hùng mạnh ở phía tây nam Trung Quốc. Từ
Nam Chiếu, người Thái đã di cư dần dần về phía nam, vào sâu trong bán đảo Trung
Ấn; sự di cư của họ đã được đẩy mạnh vào thế kỉ 13 khi quân Nguyên Mông của
hoàng đế Hốt Tất Liệt xâm chiếm miền Nam Trung Hoa. Cùng với các dân tộc Thái
khác, người Lào đã dần dần chiếm lĩnh địa bàn của các bộ lạc thổ dân bản địa
(thường được gọi chung là người Kha, nghĩa là "nô lệ") đã sống từ thế
kỉ 5 tại nơi mà nay là nước Lào, dưới quyền cai trị của đế quốc Khmer. Trong
các thế kỉ 12 và 13, người Thái thiết lập lãnh địa Muong Swa (sau là Luang Prabang),
do các lãnh đạo người Thái cai trị. Từ khi Fa Ngum dựng nước, những người kế tục ông, đặc biệt
là vua Photisarath ở thế kỷ 16 đã giúp đưa Phật giáo Tiểu thừa trở thành tôn
giáo chính trong nước. Trong thế kỷ 17, Lang Xang rơi vào giai đoạn suy tàn và
tới cuối thế kỷ 18, nước Xiêm (Thái Lan hiện nay) đã thiết lập được quyền kiểm
soát lên toàn bộ nước Lào ngày nay. Lãnh thổ bị chia thành ba quốc gia phụ
thuộc lẫn nhau với quốc gia lớn nhất Luang Prabang ở phía bắc, Vương quốc
Lan Xang Các nghĩa khác của Vạn Tượng, xem Vạn Tượng (định hướng).
Vương quốc của người Lào Vạn Tượng, hiện nay một số sách báo viết là Lan Xang,
Lan Ch'ang (tiếng Pali: Sisattanakhanahut, tiếng Lào: lâansâang, tiếng Trung: 南掌 - Nam Chưởng hay 萬象 - Vạn Tượng)
nghĩa là “đất nước triệu voi”, được Somdetch Brhat-Anya Fa Ladhuraniya Sri
Sadhana Kanayudha Maharaja Brhat Rajadharana Sri Chudhana Negara (tức vua Phà
Ngùm) thành lập năm 1354. Phải sống lưu vong từ khi còn nhỏ sang Đế quốc Khmer, hoàng
tử Lào từ Xieng Dong Xieng Thong (tên chính thức là Muang Sua sau khi Lào chiếm
được nó từ đế quốc Khmer) cuối cùng đã kết hôn với một trong các công chúa của
vua Khmer. Năm 1349 bắt đầu từ Angkor với việc chỉ huy của đội quân 10.000
lính, Phà Ngùm đã tổ chức các lãnh địa mà ông chiếm được thành các mường (tương
tự như tỉnh ngày nay) và giành lại Xieng Dong Xieng Thong từ tay bố và anh
trai. Phà Ngùm được tôn lên làm vua của Vạn Tượng tại Viêng Chăn, nơi ông đã
giành được chiến thắng (trận Phay Những năm đầu trong thời gian trị vì của Phà Ngùm tại kinh
đô Xieng Dong Xieng Thong đã không có biến cố gì. Tuy nhiên, sáu năm tiếp theo
(từ 1362 tới 1368), lại là khoảng thời gian bất ổn do mâu thuẫn tôn giáo giữa
nhánh Lạt ma giáo trong Phật giáo mà Phà Ngùm theo với Phật giáo Tiểu thừa
(Theravada) truyền thống của khu vực. Ông đã trấn áp khốc liệt sự ủng hộ trong
giới bình dân với những ý định chống lại người Mông Cổ và cho phá hủy nhiều
chùa chiền. Năm 1368, người vợ gốc Khmer của Phà Ngùm chết. Sau đó ông cưới con
gái của vua Vương quốc do người Lào, người Thái và một số bộ lạc miền
đồi núi khác dựng lên, đã tồn tại trong vùng ranh giới này trong vòng khoảng
300 năm nữa và trong một khoảng thời gian ngắn thậm chí còn mở rộng thêm được
về phía tây bắc. Các hậu duệ của Phà Ngùm còn tại vị trên ngai vàng tại Muang
Sua, đổi tên nó thành Luang Phrabang, trong gần 600 năm sau khi ông chết, duy
trì sự độc lập của Vạn Tượng cho tới cuối thế kỷ 17 thông qua một mạng lưới
phức tạp các mối quan hệ chư hầu với các công quốc nhỏ hơn. Vào cùng khoảng
thời gian này, các vị vua của Vạn Tượng cũng phải chiến đấu để đẩy lui các cuộc
xâm lấn từ phía Đại Việt (1478-1479), Xiêm La (1536), và Myanmar (1571-1621). Thời kỳ
chia cắt và bị phụ thuộc Năm 1694, Vạn Tượng rơi vào cảnh tranh giành ngai vàng, và
kết quả là nó đã chính thức chấm dứt khi bị phân chia thành ba vương quốc nhỏ -
Luang Phrabang ở miền bắc, Viêng Chăn ở trung tâm và Champasak ở phía nam vào
năm 1707. Khu vực tỉnh Houaphan có địa vị bán độc lập và tự trị do kết quả của
cuộc sáp nhập bởi quân đội Đại Việt cuối thế kỷ 15, đây cũng là sự khởi đầu cho
quan hệ triều cống cho các triều đại tại Việt Từ giữa
thế kỷ 18, các vương quốc lần lượt bị Xiêm xâm chiếm và trở thành các chư hầu
của vương quốc Xiêm, người Pháp thành lập Liên bang Đông Dương năm 1887 gồm
Việt Nam và Campuchia đã gây áp lực với Xiêm và thu hồi lại các tiểu vương quốc
trên thành lập vương quốc AiLao và đưa Ai Lao vào Liên bang Đông Dương năm
1893. Giai đoạn
từ 1945 Trong Thế chiến thứ hai, người Nhật chiếm Đông Dương. Khi
Nhật đầu hàng, những người quốc gia Lào tuyên bố độc lập, nhưng tới đầu năm
1946, quân Pháp tái chiếm nước này và chỉ trao cho họ một số quyền tự trị hạn
chế. Trong Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, Đảng cộng sản Đông Dương đã lập
ra tổ chức kháng chiến Pathet Lào nhằm giành độc lập cho Lào. Lào hoàn toàn độc
lập sau khi Pháp bị những người cộng sản Việt Các cuộc bầu cử được tổ chức vào năm 1955, và chính phủ liên
hiệp đầu tiên, do Hoàng tử Souvanna Phouma lãnh đạo được thành lập năm 1957.
Chính phủ liên hiệp sụp đổ năm 1958 vì sức ép của Hoa Kỳ. Năm 1960 các đơn vị
quân đội thực hiện một cuộc đảo chính yêu cầu cải cách và một chính phủ trung
lập. Chính phủ liên hiệp thứ hai ra đời, và lại do Souvanna Phouma lãnh đạo,
nhưng chính phủ này không giữ được quyền lực. Những lực lượng cánh hữu dưới
quyền của tướng Phoumi Nosavan loại bỏ những người trung dung ra khỏi chính phủ
cùng trong năm đó. Một hội nghị Genève lần thứ hai được tổ chức năm 1961-62,
quy định tính độc lập và trung lập của nước Lào, nhưng thoả thuận này lại bị cả
Hoa Kỳ và Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà phá vỡ và chiến tranh lại nhanh chóng diễn
ra. Lào bị kéo vào Chiến tranh Đông Dương lần hai (1954-1975). Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa sử dụng vùng cán xoong của Lào làm đường vận chuyển hậu cần và chuyển
quân từ miền Bắc Việt Một thời gian ngắn sau Hiệp định hoà bình Paris dẫn tới sự
rút quân của Mỹ khỏi Việt Nam, một cuộc ngừng bắn diễn ra giữa Pathet Lào và
chính phủ dẫn tới việc thành lập một chính phủ liên minh mới. Tuy nhiên, Việt
Nam Dân Chủ Cộng Hoà không thực sự rút quân khỏi Lào và Pathet Lào vẫn là một
đội quân phụ thuộc vào Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà. Sau sự kiện 30 tháng 4 năm
1975, Pathet Lào với sự hỗ trợ của Việt Nam đã có thể chiếm toàn bộ quyền lực
mà chỉ gặp phải một sự chống đối ít ỏi. Ngày 2 tháng 12 năm 1975, nhà vua buộc
phải thoái vị và nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào được thành lập. Chính phủ cộng sản mới do Kaysone Phomvihane lãnh đạo áp đặt
nền kinh tế tập trung hoá và đưa nhiều thành viên của chính phủ và quân đội
trước đây vào các "trại cải tạo", trong số đó có nhiều người Hmong.
Các chính sách của chính phủ đã khiến 10% dân số phải bỏ nước ra đi. Lào phụ
thuộc nhiều vào viện trợ của Liên Xô thông qua Việt Lịch sử
Lào tới năm 1945 Nước Lào
chỉ bắt đầu từ năm 1945. Ý tưởng về một quốc gia Lào riêng biệt được hình thành
từ thế kỷ 19, khi những tư tưởng phương tây về đặc tính quốc gia lan tới Đông
Nam Á, và khi những bộ tộc nói tiếng Lào bị áp lực từ hai quốc gia mạnh hơn và
có ý đồ bành trướng ở bên cạnh là Xiêm (Thái Lan) và Việt Nam. Biên giới hiện
nay của Lào được người Pháp vẽ ra năm 1893 và 1904. Hiện nay “Lịch sử Lào” chính
thức được tính từ Vương quốc Lān Xāng, được thành lập năm 1353. Nhưng trên thực
tế, Lào có lịch sử chung với người Xiêm và các dân tộc khác thuộc hệ ngôn ngữ
Thái, và Lān Xāng chỉ là một trong một số vương quốc Thái trong một vùng có một
sự thống nhất ngôn ngữ và văn hoá rộng trước khi các cường quốc bên ngoài xuất
hiện. |
||||
| Powered by Speedvn.com Copyright © 2008 by HuuNghiTour.com. All rights reserved. |
||||