Rượu cần Tây Nguyên
Một
trong những ấn tượng khó quên của khách phương xa khi đến Tây Nguyên, là những
ống cơm lam thơm ngát và chóe rượu say nồng. Hai thức dùng đã trở thành vật
linh thiêng trong lòng người dân bản địa. Đến Tây Nguyên, được người dân mời
uống rượu cần, nghĩa là bạn đã là khách quý của làng buôn.
Rượu cần là thứ đồ
uống quý có trong tất cả các gia đình người Tây Nguyên, dùng trong các dịp lễ
tế thần linh, những ngày hội làng và dành đãi khách.
Rượu
cần được quý vì nhiều lẽ. Người dân Tây Nguyên cho rằng, rượu của họ là do
Giàng (trời) bày cho cách làm, mỗi khi cúng Giàng hoặc tế lễ thần linh phải có
rượu cần thì lời cầu nguyện mới linh nghiệm. Thứ nữa, rượu cần được làm khá
công phu bằng chất liệu là lương thực -
thứ sản phẩm nuôi sống con người.
Làm men
rượu là công đoạn đầu tiên rất công phu. Người Tây Nguyên có bí quyết dùng vài
thứ lá, rễ cây trên núi để ủ men. Những thứ này cùng với củ gừng, riềng xắt
nhỏ, phơi khô, giã mịn, trộn với bột gạo và vỏ trấu, đánh thành bánh. Phơi khô lần
nữa, cầm trong tay cảm giác nhẹ, xốp là tốt, treo lên giàn bếp để dành dùng
dần. Ngày nay có men của người Kinh, nhưng chỉ loại rượu được làm từ men của
người Tây Nguyên tự chế mới cho được hương vị thơm ngon riêng biệt.
Rượu
cần làm công phu nhưng lại dễ tính về chất liệu: Hạt cào (một thứ cỏ mọc ở Tây
Nguyên), hạt bo bo, kê, gạo, bắp (ngô), khoai mì (sắn)… Mỗi loại cho một hương
vị ngọt ngào riêng, tuy nhiên được yêu chuộng nhất theo thứ tự vẫn là rượu cào,
bo bo, kê, rồi mới đến gạo, bắp. Chất liệu được nấu chín, tãi ra cho nguội. Men
giã nhỏ, trộn đều. Sau khi ủ qua một đêm, mở ra bốc hơi thơm ngào ngạt, là tốt.
Trộn với vỏ trấu, theo người làm rượu, là để có độ thoáng cho rượu mới lên men.
Chất liệu được cho vào những chiếc chóe nhỏ to bằng gốm, bịt kín miệng bằng lá
chuối hoặc ni-lon, để chỗ mát. Chóe ủ rượu có nơi còn gọi là ghè, nên rượu cần
còn được người Tây Nguyên gọi là rượu ghè. Độ chừng một tháng là rượu chín. Cái
độc đáo của rượu cần là càng để lâu, nước rượu càng ngọt giọng, nồng nàn chứ
không bị chua hay đắng.
Ở Tây
Nguyên, dù nhà rông của làng hay là nhà sàn của từng gia đình, luôn luôn có một
cây cọc uống rượu. Cọc uống rượu của gia đình thường chỉ nhô lên mặt sàn chừng
1 mét, nhưng ở nhà rông thì cao vút đến tận nóc, trên đầu cây có hoa văn trang
trí, tua ren hoa lá sặc sỡ. Khi uống rượu, chủ nhà đem chóe buộc vào cọc, mở
nắp bỏ lớp lá đậy trên miệng, đổ đầy nước, để chừng 1 giờ đồng hồ cho rượu
ngấm. Nước múc ở những con suối trong veo, đựng trong những trái bầu khô, vỏ
lên nước đen bóng, như gỗ mun. Cần uống rượu là những đoạn trúc được thông
ruột, dài chừng một mét.
Uống
rượu cần có những nghi lễ độc đáo. Chủ nhà mở chóe rượu và đọc lời cầu khấn
Giàng đem lại sức khỏe, may mắn cho khách. Sau đó chủ nhà nếm trước một ngụm
nhỏ rồi nâng cần trao cho khách. Bạn nên đỡ lấy cần bằng hai tay, tay trái đặt
lên đầu cần, tay phải cầm phần thân cần, sát miệng chóe, nhẹ nhàng vuốt dọc lên
rồi uống. Chủ nhà sẽ thân chinh hoặc cử một người, thường là những thiếu nữ mặc
váy thổ cẩm thêu hoa văn xinh đẹp, cầm ca tiếp nước vào chóe.
Người
Tây Nguyên uống rượu rất công bằng, cách rót nước như vậy gọi là đong “kang”.
Khi rót hết nước trong ca, nghĩa là khách đã uống hết phần rượu. Cách đong kang
này còn biểu lộ sự quý mến và tận tình của chủ nhà dành cho khách. Cách thứ hai
để công bằng về lượng rượu cho mỗi người, chủ nhà dùng một cành cây gác ngang
miệng chóe, có nhánh cắm xuống mặt nước một đoạn chừng một phân. Khi người uống
hút rượu, mực nước thấp xuống, đến đoạn đầu nhánh cây là đủ phần mình. Người
Tây Nguyên mời rượu tinh tế lắm, dù cho bạn có tửu lượng kém đến đâu cũng không
thể từ chối uống một kang, nhất là khi các cô gái Tây Nguyên đã cầm sẵn ca nước
trong tay, mắt nhìn khách chân thành và tha thiết. Bạn sẽ không lo lắng sợ chủ
nhà cho là bê tha và thiếu lịch sự dù có uống say đến ngã lăn quay ra sàn. Trái
lại chủ nhà sẽ rất thích thú và quý bạn hơn vì cho rằng như vậy là bạn rất chân
thành với họ.
Cái say
của rượu cần không giống cái say của bất cứ loại rượu bia nào. Chất men thơm
nồng làm cho du khách lâng lâng ngây ngất, và kỳ lạ là dẫu say nhưng vẫn cứ
uống được mãi. Bởi tiếng cồng chiêng ngân vang giữa cái nắng, cái gió bao la
của Tây Nguyên đại ngàn, hay ánh lửa bập bùng trong bóng đêm hoang sơ của núi
rừng sẽ khiến cho du khách không làm sao say khướt.
Rượu
cần và cơm lam là hai thức không thể thiếu trong các lễ hội ở buôn làng Tây
Nguyên. Cũng như uống rượu cần, khách sẽ được chủ nhà trân trọng mời ống cơm
lam đầu tiên. Ống cơm dành cho khách không phải là đoạn dài nhất, to nhất, mà
phải là đoạn được cô gái Tây Nguyên nướng khéo nhất, nhìn vào màu trúc vẫn xanh
tươi. Dùng với rượu, cơm lam là thức nhắm; không có rượu, cơm lam thành lương
thực ăn no. Vừa ăn xong, đến buổi uống rượu cần cũng ăn tiếp được mà không thấy
ngán. Buổi sáng lên rẫy, mang theo một đoạn cơm lam, một gói muối ớt với thịt
con nai khô trên giàn bếp, là làm quên luôn cái nắng ban trưa.
Tháng
3, hoa pơ-lang nở đỏ rực trời. Về Tây Nguyên vào mùa lễ hội pơ-thi (lễ bỏ mả),
lễ mừng cơm mới, cùng với con trai con gái làng uống rượu cần, ăn cơm lam, thức
trắng đêm với những vòng xoay nhịp nhàng trong tiếng cồng chiêng ngân vang,
nghe đâu đây vọng về một thuở hoang sơ hát bài ca đi mở đất, chinh phục núi
rừng.
Cơm lam Tây Nguyên
Người
ăn có thể cảm nhận cả mùi nếp thơm lẫn hương rừng trong miếng cơm lam. Nó chắc
mà lại dẻo, bùi mà không cứng, ăn không biết ngán. Nhiều khi không có thức ăn
kèm, người ta vẫn thấy rất rõ cái vị đậm đà của nó.




Nhận xét (0)
In trang này
Gửi bạn bè
Đầu trang